Tại sao có những cặp vợ chồng hoàn toàn khoẻ mạnh nhưng sinh con mắc bệnh lý di truyền? Đó là thắc mắc của không ít bệnh nhân khi đến khám hiếm muộn tại Viện Mô phôi. Nhiều trường hợp có đến hai con mắc bệnh. Vì vậy để sinh con khoẻ mạnh, tầm soát sức khoẻ trước khi mang thai là điều cần thiết. Đặc biệt là các trường hợp đã từng có con mắc bệnh di truyền gen lặn. Thalassemia là nỗi ám ảnh của rất nhiều gia đình không may có con mắc bệnh. Thalassemia là bệnh tan máu bẩm sinh và biểu hiện chính của bệnh là thiếu máu. Vì vậy, chủ động phòng ngừa bệnh Thalassemia lên thế hệ sau là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
Một số thông tin về bệnh Thalassemia
Thalassemia là bệnh thiếu máu tán huyết di truyền hay bệnh tan máu bẩm sinh.
Có mấy loại Thalassemia?
- α(alpha) Thalassemia: Thiếu chuỗi α (alpha)
- β (beta) Thalassemia: Thiếu chuỗi β(beta)
Cả ở (alpha) và β (beta) đều có 3 mức độ (Thể lâm sàng) :nặng, nhẹ và trùng gian
Ở vùng Đông Nam Châu Á, trong đó có Việt Nam tần suất mang gen β Thalassemia , α Thalasemia khá cao. β Thalasemia gồm các thể nặng (đồng hợp tử), thể trung gian, thể nhẹ (dị hợp tử).
Mỗi thể bệnh là do bất thường tổng hợp một loại chuỗi globin, kết quả tạo ra các hồng cầu nhỏ, hình dạng bất thường, dễ tan máu. Bệnh có hai biểu hiện chính là thiếu máu và ứ sắt trong cơ thể.
Tan máu bẩm sinh là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, bệnh gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến giống nòi. Tỷ lệ mắc bệnh như nhau ở cả giới nam và nữ.
Nguyên nhân gây bệnh tan máu bẩm sinh
Thalassemia xảy ra do sự thiếu hụt tổng hợp một chuỗi globin trong huyết sắc tố của hồng cầu. Thành phần chính của hồng cầu là huyết sắc tố, huyết sắc tố bình thường gồm hai chuỗi globin α và 2 chuỗi globin β với tỷ lệ 1/1.
Hồng cầu của người bệnh Thalassemia thường không bền. Vì thế bị phá huỷ làm bệnh nhân bị thiếu máu và ứ sắt. Khi thiếu hụt một trong hai sắc tố sẽ gây thiếu huyết sắc tố A, làm thay đổi đặc tính của hồng cầu, khiến hồng cầu dễ vỡ, quá trình tan máu hay vỡ hồng cầu diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời người bệnh.
Cơ chế di truyền của bệnh
Bệnh tan máu bẩm sinh là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. Do vậy tỷ lệ nam và nữ bị bệnh như nhau. Khi cả vợ và chồng cùng mang gen bệnh thalassemia thì mỗi lần sinh có 25% nguy cơ con bị bệnh, 50% khả năng con mang một gen bệnh và 25% khả năng con bình thường.
Người mang gen sẽ không có biểu hiện gì. Nhưng nếu cả 2 vợ chồng cùng mang gen thì sẽ rất nguy hiểm. Thalassemia được coi là một gánh nặng cho gia đình và cả ngành y tế. Chính vì vậy, việc tầm soát trước sinh sẽ giúp tránh khỏi những nguy cơ không mong muốn.
Cách chẩn đoán bệnh
- Xét nghiệm thấy hồng cầu giảm, hồng cầu nhỏ nhược sắc (MCV, MCH giảm), Hb giảm nhiều, hình dáng hồng cầu khá đặc hiệu: nhược sắc, to nhỏ không đều, nhiều hồng cầu bia, giọt nước, hồng cầu mảnh, bắt màu không đều. Sức bền thẩm thấu hồng cầu tăng, hồng cầu lưới tăng.
- Xét nghiệm điện di Hb thấy Hb F tăng, Hba2 tăng, Hba1 giảm nặng (thường làm khi trẻ trên 6 tháng).
- Xét nghiệm sinh hóa: Bilirubin tăng, chủ yếu tăng gián tiếp, sắt và ferritin tăng
Theo đó, phương pháp tìm đột biến gen là chẩn đoán chính xác nhất, có thể làm ngay sau khi sinh.
Sẽ ra sao nếu hai vợ chồng cùng mang gen bệnh Thalassemia?
Các mức độ của bệnh
Bệnh có 5 mức độ biểu hiện tùy theo số lượng gen bị tổn thương:
- Mức độ nhẹ. Triệu chứng máu thường rất kín đáo. Người bệnh thường chỉ được phát hiện khi có kèm theo bệnh lý khác như nhiễm trùng, phẫu thuật, có thai…
- Mức độ trung bình. Biểu hiện thiếu máu rõ ở trẻ trên 6 tuổi;
- Mức độ nặng. Biểu hiện thiếu máu nặng khi trẻ chưa đến 2 tuổi: gan và lá lách to, vàng da, chậm phát triển vận động và thể chất. Nếu không được điều trị bệnh sẽ ngày càng trầm trọng. Người bệnh sẽ bị biến dạng gương mặt: mũi tẹt, dô xương trán và xương chẩm, nhô xương hàm.
- Mức độ rất nặng: Biểu hiện phù thai từ khi còn trong bụng mẹ, có thể tử vong ngay sau sinh do suy tim và thiếu máu nặng.
- Thể ẩn không có biểu hiện gì khác biệt, không thiếu máu (thậm chí có thể hiến máu được).
Chủ động phòng ngừa bệnh Thalassemia lên thế hệ sau
Tan máu bẩm sinh Thalassemia là bệnh di truyền lặn, tức cha mẹ bình thường vẫn có thể mang gen đột biến và di truyền cho con. Tỷ lệ con sinh ra mang gen bệnh lặn và có biểu hiện bệnh là 25%. Nguy cơ là như nhau đối với nam và nữ.
Phòng ngừa bệnh Thalassemia là một phần quan trọng trong quản lý sức khỏe di truyền. Bệnh này thường không có biểu hiện rõ ràng ở người mang gen đột biến, và một số người chỉ biết sau khi có con mắc bệnh.
Vì vậy, việc xét nghiệm gen lặn trước khi mang thai là cách quan trọng để ngăn ngừa bệnh tan máu bẩm sinh Thalassemia. Điều này giúp đảm bảo rằng con cái được sinh ra là khỏe mạnh và không bị bệnh Thalassemia.
Hiện nay, Viện Mô phôi có thực hiện xét nghiệm 9 bệnh di truyền lặn phổ biến, trong đó có bệnh Thalassemia.

Đối với các trường hợp hai bố mẹ mang gen bệnh, bệnh nhân thực hiện điều trị IVF kết hợp PGT-M để loại bỏ phôi bệnh, giúp em bé sinh ra không mang bệnh ký di truyền như bố mẹ.




Bài viết liên quan
Tầm quan trọng của khám sức khoẻ tiền hôn nhân hiện nay
Cùng với sự phát triển của truyền thông, ngày càng nhiều bạn trẻ quan tâm ...
Th1
Một số biến chứng có thể gặp phải sau khi bơm IUI
Hiện nay, bơm IUI là phương pháp hỗ trợ sinh sản được nhiều cặp vợ ...
Th1
Nguyên nhân gây ra polyp cổ tử cung
Polyp cổ tử cung là tình trạng khá thường gặp ở chị em trong độ ...
Th1
Vô sinh hiếm muộn vì xuất tinh không có tinh trùng
Chất lượng tinh trùng là một trong những yếu tố quyết định thụ thai thành ...
Th1
Tiêu chí phân loại phôi ngày 5 tại Viện Mô phôi
Tại Viện Mô phôi, có câu hỏi mà bác sĩ nhận được rất nhiều từ ...
Th12
Ý nghĩa của các loại sinh thiết phôi hiện nay
Ngày nay, những tiến bộ trong lĩnh vực di truyền học đang thay đổi cục ...
Th12