Điều trị IVF thường kéo dài trong bao lâu?

Điều trị IVF thường kéo dài trong bao lâu?

Năm 1978 em bé đầu tiên trên thế giới ra đời từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Louise Joy Brown sinh ngày 25/07/1978, ở Oldham, Greater Manchester, Anh. Bà là người đầu tiên được sinh ra sau khi thụ thai bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Từ đó đến nay, mỗi năm có hàng triệu cặp vợ chồng trên thế giời được làm cha mẹ. Thụ tinh trong ống nghiệm là một kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hiện đại có nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn đóng vai trò quan trọng riêng biệt tạo nên thành công của kỹ thuật này. Vậy thụ tinh trong ống nghiệm là gì? Quy trình thụ tinh trong ống nghiệm tại Viện Mô phôi như thế nào? Điều trị IVF thường kéo dài trong bao lâu?

Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm ra đời khi nào?

Phương pháp hỗ trợ sinh sản (tiếng Anh là Assisted Reproductive Technology – viết tắt là ART) là một thuật ngữ y khoa dùng để chỉ các kỹ thuật can thiệp nhằm giúp quá trình thụ thai diễn ra thuận lợi hơn khi việc thụ thai tự nhiên gặp khó khăn.

Sự ra đời của các phương pháp hỗ trợ sinh sản là một trong những thành tựu y học vĩ đại nhất của thế kỷ 20, giúp thay đổi cuộc đời của hàng triệu cặp vợ chồng hiếm muộn. Hiện nay tại Việt Nam, có hai phương pháp hỗ trợ sinh sản chủ yếu là thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm.

Thụ tinh trong ống nghiệm là gì? Thụ tinh trong ống nghiệm(In vitro fertilization – IVF) là kỹ thuật lấy tinh trùng của người chồng và trứng của người vợ để thụ tinh trong phòng thí nghiệm, tạo thành phôi. Sau đó, phôi sẽ được đưa trở lại buồng tử cung của người vợ để làm tổ, bắt đầu một thai kỳ. Phôi được nuôi ngày 3 gọi là phôi ngày 3, phôi nuôi lên ngày 5, ngày 6 gọi là phôi nang.

Phương pháp IVF ra đời khi nào?

Ngày 25/07/1978, tại Anh, Louise Joy Brown – em bé đầu tiên trên thế giới ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) – đã chào đời. Sự kiện này gây chấn động toàn cầu, phá vỡ những rào cản về định kiến tôn giáo và đạo đức thời bấy giờ, mở ra kỷ nguyên mới cho y học sinh sản.

Việt Nam tiếp cận phương pháp này muộn hơn thế giới 20 năm nhưng đã có những bước tiến thần tốc:

  • Thời gian: Ngày 30/04/1998.
  • Sự kiện: 3 em bé IVF đầu tiên tại Việt Nam chào đời tại Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM), bao gồm: Phạm Tường Lan Thy, Mai Quốc Bảo và Lưu Tuyết Trân.

Thời gian điều trị một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm trong bao lâu?

Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) là một kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hiện đại. Trong đó tinh trùng của người chồng và trứng của người vợ sẽ được thụ tinh trong phòng Lab để tạo thành phôi. Phôi được nuôi ngày 3 gọi là phôi ngày 3, phôi nuôi lên ngày 5, ngày 6 gọi là phôi nang. 

Khi nào bệnh nhân được chỉ định thụ tinh trong ống nghiệm?

Không phải tất cả các trường hợp hiếm muộn đều phải làm IVF. Dưới đây là một số chỉ định

  • Vô sinh do rối loạn phóng noãn, tắc hoặc tổn thương 2 vòi trứng, đã cắt bỏ 2 vòi trứng…
  • Vô sinh do các bệnh lý tại buồng tử cung như lạc nội mạc trong cơ tử cung…
  • Vô sinh do tinh trùng yếu, tinh trùng ít hoặc xuất tinh ngược, không có tinh trùng trong tinh dịch…
  • Cặp vợ chồng lớn tuổi, dự trữ buồng trứng ở người vợ suy giảm.
  • Áp dụng phương pháp bơm tinh trùng nhiều lần nhưng thất bại.
  • Vô sinh – hiếm muộn chưa rõ nguyên nhân.
  • Các cặp vợ chồng mang gen bệnh như Thalassemia, Hemophilia… cần sàng lọc tiền làm tổ để giảm thiểu nguy cơ sinh con mắc bệnh. 

Điều trị IVF thường kéo dài trong bao lâu?

Thông thường một ca thụ tinh ống nghiệm mất tối thiểu là 5 tuần. Thời gian làm IVF được xác định cụ thể như sau:

  • Kiểm tra sức khỏe sinh sản tổng quát của người vợ. Thăm khám, sàng lọc siêu âm để chuẩn bị cho quá trình điều trị. Kích trứng bắt đầu vào ngày thứ 2 – 3 của chu kỳ kinh.
  • Nếu không có bệnh lý phụ khoa cần điều trị, chị em sẽ được chỉ định tiêm thuốc kích thích buồng trứng trong vòng 10 – 12 ngày.
  • Mất thêm 34 – 36 giờ nữa kể từ mũi tiêm thuốc kích thích rụng trứng để tiến hành thủ thuật chọc hút trứng.
  • Trứng và tinh trùng sẽ được kết hợp với nhau để tạo phôi. Phôi được nuôi cấy trong thời gian 3- 5 ngày, tùy theo phác đồ điều trị của từng cặp đôi trước khi chuyển phôi vào tử cung của người vợ.
  • Khoảng 14 ngày sau chuyển phôi, bệnh nhân được yêu cầu thực hiện xét nghiệm Beta – hCG. Điều này nhằm xác định tình trạng mang thai.

Như vậy, kể từ thời điểm bắt đầu tiến hành IVF đến khi biết kết quả mang thai tối thiểu là khoảng 5 tuần (đối với chuyển phôi tươi). Đối với chuyển phôi đông lạnh, thời gian khoảng 3 chu kỳ kinh của người vợ.

Các bước điều trị thụ tinh trong ống nghiệm

Khám và hoàn tất hồ sơ điều trị thụ tinh trong ống nghiệm

Đây là bước đầu tiên trong chu trình điều trị thụ tinh trong ống nghiệm của bệnh nhân. Hai vợ chồng sẽ được tiến hành thăm khám và thực hiện một số xét nghiệm cần thiết trước khi điều trị:

Các xét nghiệm:

  • Tinh dịch đồ
  • Xét nghiệm nội tiết tố,
  • Huyết học: nhóm máu, máu đông, máu chảy, máu lắng, TB máu ngoại vi
  • Hồng cầu, huyết sắc tố, bạch cầu, công thức bạch cầu
  • Xét nghiệm sàng lọc: HBsAg, HIV, BW,
  • Sinh hoá máu: SGOT, SGPT, Glucose, URE, Creatinin, Cholesterol, Albumin, Globulin, Protein, Bilirubin.
  • Nước tiểu: xét nghiệm 11 chỉ số
  • Vi sinh
  • Siêu âm: tử cung, buồng trứng
  • Chẩn đoán chức năng: điện tim đồ
  • Chụp X-Quang phổi và chụp tử cung buồng trứng (nếu cần).

Về thủ tục hành chính:

  • Giấy đăng ký kết hôn, căn cước công dân hai vợ chồng: bản sao công chứng trong vòng 06 tháng
  • Giấy cam kết thụ tinh trong ống nghiệm
  • Phê duyệt của Giám đốc Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội

Kích thích buồng trứng

>Bệnh Pompe gây ra những hệ luỵ gì?

>Hai lần chuyển phôi có hai bạn nhỏ đáng yêu

Kỹ thuật tiêm thuốc kích thích buồng trứng sẽ được bắt đầu từ ngày 2 – 3 của chu kỳ kinh nguyệt, kéo dài khoảng 10 – 12 ngày tùy mỗi bệnh nhân. Trong suốt 2 tuần thực hiện, bệnh nhân được hẹn thăm khám (siêu âm, xét nghiệm, khám tiền mê) vào các ngày thứ 6 – ngày thứ 8 – ngày thứ 10 dùng thuốc để bác sĩ tiếp tục theo dõi sự phát triển của các nang trứng.
 
Khi đã có được số lượng nang trứng đạt yêu cầu, bác sĩ sẽ tiến hành tiêm 1 mũi HCG để kích thích trứng trưởng thành. Khoảng 36H sau tiêm mũi trưởng thành noãn, bệnh nhân sẽ được chọc noãn.

Chọc hút noãn và tạo phôi

Chọc hút noãn là bước được thực hiện có gây mê tĩnh mạch dưới hướng dẫn siêu âm. 
  • Bước 1: Đặt người bệnh nằm tư thế phụ khoa. Lập đường truyền tĩnh mạch, theo dõi nhịp tim và huyết áp. Giảm đau cho bệnh nhân bằng gây mê, hoặc gây tê tại chỗ kết hợp tiền mê.
  • Bước 2: Lau sạch âm hộ, mở mỏ vịt, lau sạch âm đạo bằng nước muối sinh lý.
  • Bước 3: Đưa đầu dò siêu âm vào âm đạo, đánh giá số lượng nang noãn, khả năng tiếp cận của đầu dò với buồng trứng.
  • Bước 4: Gắn kim chọc hút vào bơm tiêm (hoặc gắn vào máy hút noãn), tráng kim và bơm tiêm bằng môi trường nuôi cấy. Tiến hành chọc và hút noãn từng nang một và từng bên buồng trứng
  • Bước 5: Chuyển dịch nang hút được vào trong Lab để nhặt noãn (quy trình thu nhặt noãn). Kiểm tra lại để đảm bảo không bị chảy máu trong.

Trữ đông phôi

Trước đây khi kỹ thuật đông lạnh phôi chưa phổ biến, bệnh nhân thường chuyển phôi tươi và chuyển nhiều phôi. Điều này gây ra nguy cơ đa thai cho bệnh nhân. Nhưng hiện nay, chuyển phôi đông lạnh đã trở thành xu hướng tại các Trung tâm Hỗ trợ sinh sản. Tại Viện Mô phôi, bệnh nhân chủ yếu được chuyển phôi đông lạnh. 

>Nam giới trữ đông tinh trùng cần những giấy tờ gì?

>Tại sao 25 tuổi chưa từng sinh con mà dự trữ buồng trứng can kiệt??

đông lạnh phôi
Đông lạnh phôi sau nuôi cấy.

Phôi sau khi được nuôi cấy (phôi phân chia hặc phôi nang) sẽ được trữ đông. Tại Viện Mô phôi, phôi được đông lạnh bằng kỹ thuật thuỷ tinh hoá – đông lạnh nhanh.

Chuẩn bị nội mạc tử cung

Bệnh nhân chuyển phôi tươi không phải trải qua bước này.

Chuẩn bị nội mạc tử cung bắt đầu từ ngày 2 chu kỳ kinh nguyệt và thường không kéo dài quá 18 ngày. Giai đoạn chuẩn bị NMTC gồm 2 giai đoạn chính:

  • Giai đoạn đầu tiên là dùng Estrogen để kích thích cho nội mạc tử cung dày lên, tăng sinh các mạch máu tạo dinh dưỡng để phôi làm tổ và phát triển
  • Giai đoạn 2: bổ sung Progesterone để NMTC chuyển sang giai đoạn chế tiết và hình thành. 

Chuyển phôi

Sau khi chuẩn bị nội mạc tử cung, bệnh nhân sẽ có chỉ định chuyển phôi.

Thời điểm lý tưởng để chuyển phôi

  • Khoảng 15-20 ngày của chu kỳ kinh tính từ ngày 2 chu kỳ kinh
  • Độ dày niêm mạc tối ưu từ 8-12mm
  • Hình thái niêm mạc đẹp trong quá trình chuẩn bị niêm mạc là hình hạt cà phê hay hình ba lá trên siêu âm
  • Một số yếu tố khác như độ tưới máu, diễn biến phát triển của niêm mạc, các vấn đề bất thường của tử cung như dịch lòng tử cung, polyp buồng tử cung…

>Độ dày niêm mạc lý tưởng để chuyển phôi là bao nhiêu? 

>Loạn sản sụn xương là gì?

Hình thái 3 lá niêm mạc
Hình thái 3 lá niêm mạc là hình thái tối ưu nhất trước khi chuyển phôi.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

DMCA.com Protection Status